Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Mạch khởi động – Start Circuit

- Hầu hết các Màn hình LCD đều có một mạch khởi động (On/off signal) để gởi một tín hiệu điều khiển việc đóng ngắt mạch nguồn của board ao áp. Tín hiệu này mức thấp ~ 0v (tắt) và mức cao trong khoảng từ 2v – 5v (mở).

- Nếu là tín hiệu là 0 Volts (tức tắt), thì board cao áp sẽ không họat động và dĩ nhiên bóng cao áp sẽ không sáng lên. Tương ứng nếu tín hiệu này = 2v-5v (là “mở”) thì board cao áp sẽ họat động và bóng cao áp sẽ sáng lên.

mach-khoi-dong-1

- Ở sơ đồ thự tế dưới đây, khi ta cắp cáp VGA và bật nguồn LCD, board xử lý hình sẽ gởi tín hiệu “ON signal” về cho board cao áp (khoảng 2-5V tùy Màn hình LCD) qua R751 kích dẫn Q751. Q751 dẫn kéo theo Q752 dẫn. Nguồn 12 Volts sẽ chạy qua Q752 và cấp cho chân VCC của IC TL1451ACN (Inverter IC). Trong đó 12V từ nguồn chính sẽ qua cầu chì F751 loại linh kiện dán SMD (2A/125V).

mach-khoi-dong-2

- Nếu không có tín hiệu “On signal” này thì Q751 sẽ không dẫn, Q752 cũng sẽ không dẫn, không có điện áp sẽ chạy vào cấp nguồn VCC cho IC, IC không họat động -> Màn hình LCD sẽ không họat động.

mach-khoi-dong-3

- Hai transistor trong mạch khởi động trên có thể thay thế tương đương bằng C945 và A733.

mach-khoi-dong-4

- Một số Màn hình LCD có nguồn (led báo nguồn) nhưng không chạy (không sáng hay không lên hình), nhiều khi chỉ đơn giản là mất tín hiệu “On signal” này hoặc giả chết IC cao áp.

mach-khoi-dong-5

- Ảnh trên minh họa việc đo áp chân “On/off Signal” vừa nêu. Khi bật công tắc thì tại vị trí này phải có từ 2V-5V. Nếu không có điện áp thì là do bo xử lý hình có vấn đề nên mất áp đường này. Trên thực tế, các Màn hình LCD Samsung đời 153V, 173V, 510N, 710N, 713N và 910N rất hay bị mất tín hiệu “On/off Signal” này.

mach-khoi-dong-6

- Nếu đã có áp 2-5V tại chân On/Off thì phải có khoảng 9 đến 12 Volts tại chân VCC của IC cao áp. Nếu có ON/Off mà không có nguồn Vcc cấp cho IC cao áp thì kiểm tra đường nguồn cấp từ mạch nguồn đến, có thể đã bị đứt cầu chì F751. Nếu đã có nguồn Vcc mà mạch vẫn chưa chạy thì thay thử IC cao áp này và thử lại. Vì nếu đứt cầu chì thì đa số là do chạm mạch bên trong và đó chỉ có thể là IC cao áp chạm mà thôi.

- Nếu tín hiệu On/off có mà rất thấp (0.5v – 1V) thì đa phần la do lỗi từ MCU của board xử lý hình. Ta có thể kích ép bằng cách câu đường nguồn 3V3 cấp thẳng cho mạch khởi động này. Cách làm này nguy hiểm vì chân On/Off này còn có chức năng bảo vệ tuy nhiên trong vài trường hợp ta cũng phải chọn cách ép này mà thôi.

Các thắc mắc liên quan vui lòng post vào forum.

Lê Quang Vinh

Inverter Board – Board cao áp

inverter-board
Ở các LCD đời mới, bo cao áp nằm chung với bo nguồn. Còn các LCD đời củ thì bo cao áp có thể nằm riêng như hình bên dưới.
inverter-board-2
Bo cao áp trong LCD được thiết kế theo 4 dạng thông dụng như sau:

1) Kiểu Buck Royer
2) Kiểu kéo đẩy (Lái trực tiếp)
3) Kiểu Nữa cầu -Half bridge (Lái trực tiếp)
4) Toàn cầu – Full bridge (Lái trực tiếp)

Các kiểu 2, 3, 4 hiện nay được dùng nhiều hơn do tính ổn định và ít tốn linh kiện hơn.

1. Buck Royer Inverter:

so-do-khoi-bo-cao-apSơ đồ khối kiểu Buck Yoyer

bo-cao-ap-thuc-te

- Để đốt sáng các bóng cao áp (back light), nhiệm vụ của bo cao áp là chuyển điện áp 12V DC từ mạch nguồn lên đến hàng trăm thậm chí hàng ngàn vôn AC.

mach-buck-choke-can-ban

- Mỗi mạch cao áp cấp cao áp cho từng bóng cao áp riêng biệt (đối với các LCD có 2 hay 4 bóng cao áp). Mạch dạng này bao gồm: IC điều xung (hay còn gọi IC inverter), Mosfet Buck kênh P, cuộn dây Buck và Diode Buck, cặp Transistor kéo đẩy…

mach-buck-choke-thuc-te

- Nói cho phức tạp, thực chất nó như dạng một cái “tăng phô” điện tử. Tuy nhiên, ở đây nó được thiết kế để họat động ở tần số từ 30 đến 70 Khz với mạch hồi tiếp để họat động ổn định. Các MOSFET thì đạng đôi và đóng gói như dạng IC 8 chân cắm hoặc 8 chân dán SMD.

mosfet-doi

mosfet-doi-loai-dan-smd

fet-kenh-p

fet-kenh-p-dang-ic

- Các mosfet đội chân cắm thông dụng là: FU9024N, J598 …
– Các mosfet lọai dán SMD thông dụng là: 4431, BE3V1J…
– Các transistors kéo đẩy thông dụng là: C5706, C5707…

2. Dạng kéo đẩy (Lái trực tiếp)

mach-keo-day-can-ban

- Lọai này chủ yếu sử dụng 1 cặp mosfet ngược kênh và trên thực tế thì 2 mosfet này cũng được đóng gói như 1 IC 8 chân cắm hoặc 8 chân dán SMD.

3. Dạng nữa cầu – Half Bridge Inverter (Lái trực tiếp)

mach-nua-cau-co-ban

- Dạng này thì cũng tương tự như như dạng kéo đẩy nhưng khác nhau ở chổ chỉ cần 1 cuộn dây bên sơ mà thôi.

mach-nua-cau-thuc-te

4. Dạng toàn cầu – Full Bridge Inverter (Lái trực tiếp)

mach-toan-cau-co-ban

- Lọai này thường thấy trong các LCD đời mới, nó chạy đến 2 MOSFET đôi 8 chân cho 1 bóng cao áp.

mach-toan-cau-thuc-te

mach-toan-cau-thuc-te-2

mosfet-doi-2
Những lỗi thường gặp trong bo cao áp:
1) Khô hoặc phù tụ (Rất phổ biến trong các mạch dạng buck choke)
2) Chạm hoặc đứt cuộn dây cao áp
3) Đứt hoặc chạm các transistor kéo đẩy
4) Lỗi các tụ dập xung
5) Chết MOSFET
6) Đứt các cầu chì cấp nguồn cao áp
7) Lỗi các tụ xuất
8) Chạm bóng cao áp

- Các IC Inverter thường ít khi chết hơn. Một vài IC inverter thông dụng như TL1451 ACN, 0Z960, 0Z962, 0Z965, BIT3105, BIT31 06, TL5001…

Các thắc mắc liên quan vui lòng gởi vào box monitor của forum.

Lê Quang Vinh

Monitor LCD: Mainboard – Logic board – Scalar board – AD board

mainboard-lcd

Theo tiếng Việt thì gọi là bo hình – bo xử lý – bo giao tiếp… nhiệm vụ chính là nhận tín hiểu RGB Analog rồi chuyển đổi thành tín hiệu Digital cấp cho mạch điều khiển, mạch lái rồi xuất lên LCD Panel.

Trên bo gồm có: IC giao tiếp (Scalar), MCU (microcontroller unit), EEprom, thạc anh, mạch ổn áp, và một số linh kiện dán (SMD). Các mạch ổn áp nguồn trên bo bao gồm: 2v5, 3v3 và 5v. Trên bo còn có các đường tín hiệu khác như: không hiển thị (no display), tự động cân chỉnh…

Chức năng của các IC trên bo:

1. IC giao tiếp:
– Nó bao gồm Pre-Amp, ADC (chuyển đổi analog sang digital), tự động cân chỉnh (Auto Adjustment), PLL (Phase Locked Loop), các hiển thị trên màn hình (On Screen Display -OSD)… Chuyển đổi tín hiệu màu RGB sang 8 bit hay 16 bit tùy thuộc vào MCU đang dùng để cấp cho IC điều khiển panel LCD. Chức năng tự động cân chỉnh tần số, phase, vị trí ngang / dọc và cân bằng trắng… khi chuyển đổi độ phân giải. Ở các monitor LCD đời củ, các chức năng này không nằm chung 1 IC mà chia thành nhiều IC khác nhau.

mainboard-lcd-2

2. MCU (Microcontroller Unit):
– Nó là một vi xử lý bao gồm cả CPU, SRAM, DAC, ADC và 64K FlashROM. Điều khiển mọi họat động trên bo như một máy tính thu nhỏ.

mcu

3. EEprom:
– Lưu các đoạn chương trình như là BIOS của mainboard máy tính. Và dĩ nhiên, nó cũng có thể bị lỗi và cũng được xả ra nạp lại bằng các máy nạp ROM thông dụng như PCB50 của TME hay Máy ProTool U580…như chính BIOS mainboard máy tính.

eeprom-post

Vị trí thực tế của EEprom

- Nếu lỗi EEprom: sẽ Không lên hình, sai khuông hình ngang dọc, không thể lưu các cài đặt, cân chỉnh của người dùng, một số chức năng điều chỉnh âm thanh, ánh sáng không họat động, không hiển thị các màn hình chức năng điều khiển hoặc hiện các màn hình chức năng hòai mà không tắt.
– Việc nạp lại ROM này chủ đọc từ ROM máy tốt để dành nạp lại hoặc lên mạng tìm hoặc xin nhé.
– Các chip EEprom thông dụng là: 24C02, 24C21, 24C04, 24C08, 24C16

24c02Hình dáng thực tế của EEprom

4. Thạch Anh:
– Cấp giao động cho MCU, thạch anh hư MCU không họat động và LCD sẽ không lên hình.

5. Các mạch ổn áp 2v5, 3v3, 5v:

- Để cấp nguồn cho tòan bộ bo, nếu mất sẽ không lên Led báo nguồn.

Lê Quang Vinh

4. Hoạt động của khối quang
Nhiệm vụ khối quang :

laser-printer-laser
– Tạo ra tia laser có cường độ phát xạ thay đổi theo cấp độ xám của từng điểm ảnh (pixel)
– Bắn tia laser trải đều trên suốt chiều dài của trống (theo từng dòng ảnh)
Khối quang có cấu tạo như sau :

Reduced: 69% of original size [ 735 x 638 ] – Click to view full image


Đầu vào :
– Tín hiệu Start từ mạch điều khiển tới.
– Tin hiệu báo trạng thái (cửa) của công tắc nằm trên khối quang (có thể có hoặc không).
– Điện áp thể hiện cấp độ xám của từng điểm ảnh (theo thời gian thực) dạng analog từ mạch data tới.
– Tín hiệu thông báo độ phân giải trang in từ mạch data đưa tới.
– Nguồn cung cấp
Đầu ra :
– Tín hiệu an toàn (từ IC MDA) khối quang trả về mạch điều khiển.
– Tia laser trải đều trên suốt chiều dài của trống (theo từng dòng ảnh)
Nguyên lý hoạt động :
– Sau khi đã xử lý xong dữ liệu từ PC gửi sang, mạch data thông báo cho mạch điều khiển để chuẩn bị tạo bản in.
– Mạch điều khiển ra lệnh
*. Chuyển dữ liệu thể hiện cấp độ xám của từng điểm ảnh sang mạch quang.
*. Cho phép mạch quang hoạt động.
– Lúc đó, IC MDA mạch quang sẽ điều khiển motor lệch tia chạy (với tốc độ không đổi, tùy thuộc vào từng loại máy/độ phân giải trang in).
– Đồng thời, IC MDA cũng khuyêch đại điện áp điểm ảnh và đưa tới laser diode làm cho diode này hoạt động và phát xạ ra tia laser. Như vậy, cường độ của tia laser là liên tục thay đổi (lúc yếu/lúc mạnh) phụ thuộc vào điện áp từng điểm ảnh.
– Các bạn chú ý, trong lòng laser diode có 1 vòng đồng nằm đằng trước laser. Đây chính là vòng hội tụ (hội tụ bằng tĩnh điện), điện áp trên vòng hội tụ sẽ quyết định cho tia laser phát xạ ra khỏi nó là lớn hay nhỏ. Thông qua đó điều chỉnh độ phân giải của bản in (dpi – dot per inch)

Reduced: 84% of original size [ 607 x 282 ] – Click to view full image


– Tia laser phát xạ từ laser diode được đưa qua kính hội tụ để thu nhỏ lại (đường kính của tia laser) sẽ quyết định độ to/nhỏ của điểm ảnh. Nguyên lý hội tụ bằng vòng tĩnh điện giống như nguyên lý hội tụ ở lưới Focus trong đèn hình CRT.
– Tia laser qua vòng kính lọc để đảm bảo loại bỏ tất cả các can nhiễu có thể làm sai lệch tần số của laser và đến motor lệch tia. Sau đó tới motor lệch tia.
– Motor lệch tia có tốc độ quay rất lớn (ta có thể nghe tiếng rít nhẹ khi nó khởi động, tốc độ quay của nó cũng góp phần quyết định độ phân giải của bản in). Trục motor lệch tia có gắn 1 miếng thép vuông (khoảng 10mmx10mmx1mm) trắng bóng. Tia laser đập vào nó, với tốc độ quay của miếng thép rất cao thì nó sẽ bẻ góc (khúc xạ) từng tia (tại 1 thời điểm, mỗi tia đại diện cho 1 điểm ảnh) làm cho từng tia bắn vào kính khúc xạ.
– Kính khúc xạ là miếng nhựa trong làm nhiệm vụ bẻ góc và tia laser để chúng bắn lên gương phản xạ.
– Gương nằm song song với kính khúc xạ và lệch 1 góc khoảng 45 độ, làm nhiệm vụ phản xạ các tia laser hắt vào trống. Các tia này đi tới trống qua khe hở hộp quang. Nếu bạn tháo hộp quang sẽ thấy dưới đáy có 1 khe hở (kích thước chừng 5mmx200mm).
Như vậy : Có thể rút ra một số nhận xét
– Tia laser càng nhỏ thì kích thước điểm ảnh càng nhỏ (và ngược lại). Vấn đề này được điều chỉnh thông qua thay đổi điều khiển vòng hội tụ.
– Cường độ tia laser phụ thuộc điện áp hoạt động của laser diode. Điều này là rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự đâm/nhạt của bản in.

Một số bệnh do khối quang gây ra :

Hiện tượng 1: Ra lệnh in, máy tiếp nhận dữ liệu (đèn data nháy), khối cơ hoạt động (nghe thấy tiếng ồn do các bánh xe quay) khoảng một vài giây, cơ dừng_không nạp giấy và báo lỗi.

Lỗi này do tín hiệu phản hồi từ IC MDA trong khối quang gây ra. Bình thường, khi nhận lệnh hoạt động từ mạch điều khiển thì IC MDA sẽ thực hiện 3 động tác :
• Gửi tín hiệu phản hồi về cho mạch điều khiển, báo cáo tình trạng tốt.
• Cấp điện cho motor lệch tia quay (bạn sẽ nghe thấy tiếng rít nhẹ, mảnh)
• Cấp điện cho laser diode và vòng hội tụ.
Trường hợp này đến 99% là do IC MDA chết, mạch ngoài của IC này cực kỳ đơn giản, ít linh kiện và hầu như không hư hỏng.
Khắc phục : Thay IC MDA (là loại dán) đúng tên.

Hiện tượng 2 : Bản in mờ (với điều kiện mực tốt, trống tốt, cao áp tốt)
Hiện tượng này do mạch MD (monitor diode) làm nhiệm vụ kiểm soát cường độ phát xạ của laser diode hoạt động kém dẫn đến cường độ laser quá mạnh làm phân hủy tĩnh điện trên trống quá nhiều, gây ra mờ bản in.
Khắc phục : Mở nắp hộp quang.
Chỉnh biến trở MD (nằm sát laser diode) khoảng 1/8 cung tròn về bên trái và in thử. Nếu chưa đạt thì chỉnh tiếp.
Lưu ý : Trước khi chỉnh, cần chấm vào mặt biến trở 1 tí (đầu tăm) dầu (máy khâu) để boi trơn, tránh cho mặt than của biến trở bị rạn, vỡ.

Hiện tượng 3 : Bản in lốm đốm (với điều kiện mực tốt, trống tốt, cao áp tốt)
Lỗi này do hệ thống lệch tia và dẫn quang gây ra. Bạn hãy vệ sinh hệ thống dẫn quang :
• Miếng kim loại trắng bóng (10mmx10mmx1mm) gắn trên trục của motor lệch tia.
• Kính khúc xạ.
• Gương phản xạ
Những đối tượng này nếu bị mốc, bẩn thì rửa bằng “nước rửa bát” và chổi mềm. Sau đó lau khô bằng giẻ mềm. Tuyệt đối không sấy, không rửa bằng hóa chất (như cồn, axeton …)

Hiện tượng 4 : Bản in đen sì
Lỗi này do mất tia laser hoặc cường độ phát xạ quá yếu. Máy in laser lại sử dụng laser trắng (khác với ổ CD/DVD sử dụng laser đỏ hoặc xanh) nên không thể kiểm ra bằng mắt thường.
Khắc phục :
• Chỉnh thử biến trở MD (về bên phải), mỗi lần chỉnh 1/8 cung tròn.
• Kiểm tra điện áp 5V(+), đây là thiên áp tĩnh cho laser diode. Nếu mất hãy dò ngược từ chân laser diode về đầu cáp hộp quang. Đường nguồn này thường có 1 điện trở cầu chì (0,47Ω) và 1 tụ lọc (vài chục nF, tùy máy) đằng sau điện trở. Điện trở có thể đứt, tụ lọc có thể chập, hãy thay thế (đúng giá trị).
• Nếu điện áp 5V có, chỉnh thử biến trở MD không được, hãy thay laser diode (nguyên nhân này có sác xuất rất thấp, khoảng vài%).

Hiện tượng 5 : Nét chữ, các đường (cong, thẳng) bị nhòe sang hai bên.
Hiện tượng này do tia laser không chụm (hội tụ) hoặc hội tụ kém nên điểm ảnh trên trống bị tăng kích thước.
Khắc phục : Điều chỉnh điện áp vòng hội tụ tĩnh điện bằng biến trở trên mạch quang. Biến trở này thường có ký hiệu (FC, Vfc) nằm gần laser dioe (xa hơn MD một chút). Sau mỗi lần chỉnh, hãy in thử đến khi đạt độ nét thì thôi.

Hiện tượng 6 : Thay đổi độ phân giải (DPI) từ chương trình in trên PC nhưng bản in không thay đổi, chỉ đạt được độ phân giải tối thiểu.
Như bài trước đã đề cập. Tốc độ quay của motor lệch tia phụ thuộc vào độ phân giải trang in. Để thay đổi độ phân giải thì mạch data gửi 1 tín hiệu lên IC MDA. Tín hiệu này là tín hiệu logic nên không thể kiểm tra bằng ĐHVN hoặc đầu dò logic, chỉ có thể kiểm tra bằng máy hiện sóng.
Khắc phục : Nếu các tụ, điện trở trên đường tín hiệu phân giải từ mạch data lên IC MDA mạch quang không hư hỏng thì thay thế IC MDA.

Mọi thắc mắc về máy in Laser vui lòng gởi vào forum để thảo luận.

Hoàng Trọng Nghĩa

Email : htnghiahd@gmail.com

3. Hoạt động của máy in laser :
3.1. Nạp giấy và tải giấy :

laser-printer-path
Nguyên tắc chung của việc nạp giấy từ khay chứa vào đường tải, buồng chụp là sử dụng lực ma sát giữa trục ép đầu vào và tờ giấy. Nguyên tắc này đúng với tất cả các loại máy in laser, kim, phun, LED, máy photocopy.
Mô hình của quá trình nạp giấy như hình dưới đây :

Reduced: 72% of original size [ 707 x 689 ] – Click to view full image


Trạng thái chờ (ready) :
Điều kiện : xem lại bài quá trình kiểm tra :
(Cảm biến khay giấy sẽ nhận biết tình trạng có/không có giấy (ở cả khay đựng và khay tay). Nếu không có giấy, khi ra lệnh in thì Wndows sẽ báo lỗi (ví dụ máy Canon 2900 báo : Out of paper or paper could not be fed)
Ở chế độ chờ, đầu khay nạp và mặt bánh ép cách nhau khá xa (thường từ 15mm-30mm). Tờ giấy nằm ở trạng thái tự do, ko chịu tác động của bánh ép nạp giấy. Khe hở giữa đầu khay nạp và bánh ép quyết định số tờ giấy tối đa (giấy tiêu chuẩn, độ dày ghi trong catalog của máy) có thể đặt trong khay (trừ khay tay chỉ cho 1 tờ/1 thời điểm)

Nạp và tải giấy :
Sau khi ra lệnh in từ PC (hoặc bấm nút test trên 1 số máy HP đời cũ) thì mạch data sẽ chuẩn bị dữ liệu để xuất cho dàn quang. Sau vài giây hoặc vài chục giây (tùy dung lượng dữ liệu cần in) thì mạch điều khiển ra lệnh nạp giấy, rơ le nạp sẽ hoạt động để tác động lên cơ cấu dịch chuyển khay giấy_bánh ép nạp giấy. Lúc đó đồng thời xảy ra hai động tác :
– Đầu khay giấy được đẩy(nâng) và dịch chuyển để gần vào bánh ép nạp giấy.
– Bánh ép quay để mặt cong của nó đối diện với đầu khay giấy.
Như vậy, tờ giấy nằm giữa khe (rất hẹp) do đầu khay và mặt cong của bánh ép nạp giấy tạo thành, nó sẽ chịu tác động của lực ma sát trên bánh ép (vỏ bằng cao su nhám) và bị cuốn theo chiều quay của bánh ép đi vào trong đường tải giấy.
Đầu đường tải, có thêm bánh ép tải giấy quay ngược chiều bánh ép nạp giấy sẽ tạo thành lực kéo đưa tờ giấy vào đường tải, tiến đến buồng chụp.
Trên đường tải, tờ giấy sẽ tỳ vào cảm biến đường tải đổi trạng thái (đóng→mở hoặc mở→đóng, tùy máy), mạch điều khiển biết : giấy đã nạp thành công.
Sau khi giấy đi qua, cảm biến đường tải không bị tỳ nữa, nó trở về trạng thái ban đầu, mạch điều khiển biết : giấy di chuyển trên đường tải, buồng chụp tốt.
Sau đây là cơ cấu nạp, tải giấy của máy in HP5L/6L, Canon LBP800/810.

Reduced: 69% of original size [ 736 x 675 ] – Click to view full image

Lực kéo giấy: Được tạo ra từ lực ép giữa trục ép trên (7) và trục ép dưới (3, 4). Hai hệ thống này quay ngược chiều nhau (hình vẽ).
Điều kiện để giấy được kéo vào ruột máy (nạp giấy).
– Khay giấy di chuyển ra ngoài (phía trục ép 7)
– Trục ép quay (ngược chiều kim đồng hồ theo hình vẽ) để ép sát vào khay giấy.
Bề mặt của trục ép (7) là cao su có ma sát lớn, khi quay sẽ tạo lực kéo, kéo giấy vào buồng máy.
Trục ép dưới (3, 4) quay ngược chiều trục ép trên (7) sẽ tiếp tục tạo lực kéo đưa giấy vào sâu trong buồng máy.

Mô tả quá trình nạp giấy :
Khi chưa có lệnh nạp giấy :
Khay giấy bị đẩy xa khỏi trục ép (7) bởi mỏ của con tỳ (5, 6). Lúc này trục ép (7) có dạng nửa vòng tròn tạo thành 1 khe hở lớn với mặt khay, như vậy giấy trên khay ko ép sát vào trục (7).
Khi có lệnh in :Motor capstan làm quay bánh răng (1) và tất cả hệ thống cơ, ta có thể nghe thấy tiếng quay của các bánh xe. Mục đích là để trống quay (nạp điện tích cho trống), lô sấy_ép quay sẵn sàng cho việc ép và đẩy giấy ra .
Bánh răng 1, và 2 liên kết với nhau bởi lực ma sát do lò xo 1 tì vào mặt trong của bánh xe 1, 2. Lúc này bánh xe 2 bị cái móc của rơ le giữ và nó ko quay, chỉ có bánh xe 1 là quay.
Khi có lệnh nạp giấy : Lệnh này được phát ra sau lệnh in, lệnh này có mức logic 1 làm mở transistor nối tiếp với cuộn hút rơ le, như vậy rơ le được cấp điện tạo lực hút, cái móc của rơ le di chuyển (như hình vẽ).
Khi móc rơ le di chuyển sẽ nhả bánh răng (2). Lực ma sát giữa bánh răng 1 và 2 sẽ kéo bánh răng 2 làm quay trục (đút vào tâm bánh răng 2- hình vẽ).
Trục quay sẽ lai con tỳ 5, 6 quay theo. Cái mỏ của 5, 6 không tỳ vào khay nữa. Lực đẩy của lò xo 2 sẽ đưa khay ép sát vào trục ép (7).
Trục ép 7 cũng được trục quay làm quay theo, mặt tròn của nó ép sát khay giấy, lực ma sát của (7) sẽ kéo giấy vào buồng máy.
Các bệnh của cơ cấu nạp, tải giấy ( mô tả với điều kiện máy đang chạy mà hỏng, chứ không áp dụng cho các trường hợp tháo máy ra_lắp lại mà hỏng)

Bệnh 1 : Không nạp giấy hoàn toàn.
Khi ra lệnh in, toàn bộ hệ thống cơ quay, 1 chút sau bạn sẽ tiếng “cách” đó chính là khi rơ le hoạt động, đầu khay giấy di chuyển, bánh ép nạp giấy quay. Bạn hãy chú ý nghe tiếng kêu đó.
– Do đặt giấy vào không hết đầu khay, như vậy đầu giấy không vào được khe giữa đầu khay và bánh ép nạp giấy (xảy ra với khay nằm)
Khắc phục: Đẩy giấy vào hết tầm của khay.

Bệnh 2: Nạp giấy vào được chừng 5-10mm thì giấy không vào nữa, hệ cơ chạy thêm tí chút thì dừng, đèn báo lỗi.
Bệnh này là do giảm ma sat giữa bánh ép nạp giấy và tờ giấy. Nguyên nhân là do bánh ép có vỏ cao su nhám sau một thời gian hoạt động sẽ “bị lì mặt nhám”, bạn có thể mở cửa trước (có thể tháo cả hộp mực) mà nhìn, bề mặt của bánh ép rất bóng. Bệnh này cũng thường gặp khi bánh ép “hơi lì mặt” và sử dụng giấy quá mỏng.
Khắc phục : Dùng giẻ sạch (kiểu sợi bông như khăn mặt) luồn vào mặt tròn của bánh ép, chà đi chà lại cho tới khi thấy hết bóng là được.
Lưu ý : Bánh ép nạp giấy “bị lì mặt” còn gây ra hiện tượng kéo 2, 3 .. vào 1 lúc dẫn đến “dắt giấy” trong đường tải, lô sấy.

Bệnh 3 : Nạp giấy, giấy vào nhưng và máy dừng, báo lỗi.
Bạn hãy mở cửa trước, rút hộp mực, rất có thể sẽ nhìn thấy giấy bị dồn chặt ở ngay đằng sau của bánh ép nạp giấy (kiểu như gấp giấy xếp nếp).
Nguyên nhân của bệnh này là do bánh ép tải giấy có thể bị kẹt (tháo máy ra thường có 2 bánh ép tải giấy, có lò xo đẩy để tỳ sát mặt tròn của bánh ép nạp giấy).
Khắc phục : Kéo tờ giấy bị xếp nếp ra khỏi máy (chú ý nhẹ nhàng, vừa kéo vừa quan sát xem có bị vướng, bị móc vào các mấu, gờ trong đường tải không, có thể sẽ làm rách và để lại những ẩu giấy trong đó)
Cố gắng luồn được ngón tay vào ấn/nhả 2 bánh ép tải giấy vài lần, phải cảm nhận thấy lực đẩy của 2 bánh là bằng nhau)
Nếu xử lý như trên mà không được, buộc phải tháo máy và vệ sinh hốc lò xo đẩy bánh ép tải giấy.

Bệnh 4 : Nạp giấy, giấy đi lệch và có thể bị kẹt lại trong đường tải do giấy đi lệch.
Nguyên nhân là do lực ép giấy tạo thành giữa bánh ép nạp và bánh ép tải giấy không cân, bạn có thể quan sát minh họa cơ cấu nạp giấy của máy HP5L.
Lực ép bị lệch do:
• Méo bánh ép nạp giấy (bạn phải thay vỏ cao su của bánh ép).
• Mòn bánh ép đường nạp.
• Trục, ổ quay bánh ép đường nạp bị mòn, dãn tới bị đảo khi chạy.
Khắc phục : Thay thế cụm bánh ép đường nạp.

còn tiếp…

Mọi thắc mắc về máy in Laser vui lòng gởi vào forum để thảo luận.

Hoàng Trọng Nghĩa
htnghiahd@gmail.com

hp-laserjet-1300-laser-printer-reviewjpgaspx

1. Nguyên lý chung :
Máy in laser là thiết bị in sử dụng tia laser trong quá trình tạo bản in. Có nhiều người đã nhầm máy laser với máy in sử dụng đèn LED để tạo bản in.
Sơ đồ khối máy in laser như sau

1.1. Khối nguồn :
Ổn định điện áp và cung cấp năng lượng điện cho toàn máy.
Đầu vào của nó là nguồn xoay chiều dân dụng (AC).
Đầu ra của khối nguồn bao gồm các mức nguồn một chiều ổn định, đã được lọc sạch các can nhiễu (nếu có) của nguồn dân dụng. Sẵn sàng cung cấp cho các mạch điện trong máy.
Khối nguồn cũng tạo ra cao áp trong từng thời điểm (dưới tác động của khối điều khiển) để nạp tĩnh điện cho trống, cho giấy trong quá trình tạo bản in. Với máy photocopy thì còn có thể sử dụng cao áp cho việc tách giấy nữa.
Phần lớn khối nguồn của các máy in, từ in kim_phun_laser_LED đều sử dụng kiểu mạch nguồn ngắt mở (switching)

1.2. Khối data :
Còn gọi là khối giao tiếp, thực hiện nhiệm vụ sau :
Đầu vào : Nhận lệnh in và dữ liệu từ PC gửi sang.
Đầu vào của các máy in đời cũ (như máy kim Epson LQ100/1070/1170 …, máy laser HP4L/5L/6L…) được kết nối với PC bằng cổng song song (LPT1/2 … – parallel).
Đầu vào của các máy in đời mới hơn (như Canon LBP2900…) được kết nối với PC bằng cổng tuần tự vạn năng (USB – Universial Serial Bus).
Đầu ra : Xuất tín hiệu cho mạch quang và mạch điều khiển
Tín hiệu điều khiển từ PC bao gồm :
• Lệnh kiểm tra tình trạng máy in (hết giấy, sự cố mạch sấy …)
• Lệnh nạp giấy.
Các tín hiệu nói trên (về mặt xử lý) với cổng song song thì đi chân riêng và được tách trước mạch dữ liệu đến mạch điều khiển, còn ở cổng USB thì tách sau IC giao tiếp để đến mạch điều khiển.
Dữ liệu từ PC : Là chuỗi nhị phân (0,1) thể hiện cấp độ xám của từng điểm ảnh trên bản cần in (những bạn đã học về tivi, monitor sẽ hiểu khái niệm này). Tín hiệu này được đưa vào mạch xử lý dữ liệu để chuyển đổi thành điện áp tương tự (analog) và cấp cho mạch quang. Tùy theo biên độ điện áp điều khiển mà diode laser của mạch quang sẽ phát xạ mạnh hay yếu.

1.3. Khối quang :
Đầu vào : Bao gồm tín hiệu 2 tín hiệu
• Tín hiệu điều khiển motor lệch tia, được gửi đến từ mạch điều khiển.
• Điện áp điều khiển cường độ phát xạ laser, được gửi đến từ khối data.
Đầu ra : Là các tia laser được trải đều trên suốt chiều dài của trống, với mục đích làm suy giảm hoặc triệt tiêu tĩnh điện trên mặt trống trong quá trình tạo bản in.

laser-printer-laser

1.4. Khối sấy :
Thực hiện 3 nhiệm vụ :
Tạo ra nhiệt độ cao (với máy HP5L/6L là 1820C, máy Canon LBP là 1830C) để nung chảy bột mực. Nhiệt độ cao này có thể được tạo ra bằng thanh điện trở hoặc bằng đèn (haloghen)
Tạo ra lực ép để ép mực (đã được nung chảy) thấm vào xơ giấy để cố định điểm ảnh trên giấy. Lực ép được tạo ra bằng các trục lăn được nén dưới tác động của lò xo.
Tạo ra lực kéo để kéo giấy ra khỏi máy in sau khi đã sấy_ép. Lực kéo được tạo ra nhờ hệ thống trục lăn trên/dưới quay ngược chiều nhau.
Khối sấy nhận lệnh từ khối điều khiển để thi hành tác vụ. Ngược lại, nó cũng gửi tín hiệu thông báo trạng thái nhiệt, trạng thái giấy cho mạch điều khiển để dừng máy khi có sự cố. Tín hiệu phản hồi này được lấy ra từ các cảm biến (sensor)

1.5. Khối cơ :
Bao gồm tập hợp các bánh răng, trục lăn_ép thực hiện các hành trình sau :
• Nạp giấy : kéo giấy từ khay vào trong máy.
• Kéo giấy di chuyển đúng đường đi theo thiết kế, đảm bảo cho giấy được tiếp xúc với trống.
• Đẩy giấy (đã hoàn thành bản in) ra khỏi máy.
Toàn bộ khối cơ được vận hành nhờ lực kéo từ 1 motor chính (capstan motor), motor được điều khiển bằng lệnh hành trình từ khối điều khiển.
Hệ thống cơ cũng gửi tín hiệu phản hồi về khối điều khiển để thực hiện các hành vi thích hợp (ví dụ như lặp lại động tác nạp giấy, dừng in và thông báo cho PC khi hết giấy, dắt giấy …)

laser-printer-path

1.6. Khối điều khiển :
Điều hành toàn bộ mọi hoạt động của máy. Về mặt phương thức chính là điều khiển tùy động (servo).
Đầu vào : Gồm các tín hiệu
• Lệnh thông báo tình trạng (từ PC sang)
• Lệnh in, nhận dữ liệu in.
• Tín hiệu phản hồi từ các khối.
Đầu ra : Gồm các tín hiệu
• Thông báo trạng thái (gửi sang PC)
• Mở cổng, nhận và giải mã dữ liệu sang analog (gửi tới data)
• Tạo cao áp (gửi sang nguồn)
• Quay capstan motor (gửi sang cơ)
• Mở nguồn cấp cho mạch sấy (gửi sang sấy)
• Quay motor lệch tia (gửi sang quang)
• Mở diode laser (gửi sang quang)
• Sẵn sàng (ready – gửi sang tất cả các khối)

2. Quá trình khởi động của máy in laser :
2.1. Kiểm tra :
Bắt đầu từ việc bật công tắc nguồn hoặc cắm dây nguồn (vì 1 số máy in như HP4L/5L/6L không có công tắc, cắm dây nguồn là chạy ngay).
Mạch điều khiển (dùng MCU) ra lệnh kiểm tra :
2.1.1. Kiểm tra trạng thái cửa :
Cửa (không bao gồm khay giấy vào/ra) của máy in là nơi mà người sử dụng (hoặc kỹ thuật viên) có thể tiếp xúc một cách sơ bộ để thực hiện các tác vụ sau:
• Thay thế hộp mực.
• Vệ sinh đường tải, trục (thường có lớp vỏ mút) nạp trống.
• Kiểm tra xem có “dắt” giấy trên đường tải không.
Các máy in laser thường có từ 1 đến 2 cửa.
Cửa trước :
• Tháo/lắp hộp mực, kiểm tra đường tải.
Cửa sau :
• Kiểm tra, kéo giấy bị “dắt” ở đầu ra lô sấy.
Ngoài ra, cửa (trước) còn có tác dụng che kín buồng tạo bản in. Đảm bảo cho ánh sáng ngoài không “gây nhiễu” cho tia laser trong quá trình tạo bản in.
Các cửa đều có “công tắc”, có thể là công tắc cơ khí hoặc quang điện. Khi cửa được đóng sẽ có tín hiệu báo về mạch điều khiển để tiếp tục các bước sau.
Nếu muốn mở cửa để theo dõi vận hành của máy, bạn phải tìm ra khe chứa công tắc cửa và tác động vào nó (dán băng dính ép vào hoặc dùng tô vít chọc vào)
Nếu tất cả các cửa đều đóng, công tắc tốt thì trạng thái cửa được nhận định là tốt. Mạch điều khiển sẽ kiểm tra tiếp trạng thái cơ
Nếu có ít nhất 1 trong các cửa bị mở, công tắc hư thì trạng thái cửa sẽ được nhận định lỗi. Mạch điều khiển sẽ không cho sáng đèn báo lỗi.

2.1.2. Kiểm tra trạng thái cơ :
Việc kiểm tra này đảm bảo trạng thái của hệ cơ là thông suốt, nó bao gồm :
• Kiểm tra khay giấy xem có mẩu_tờ giấy nào bị “dắt” vào bánh ép nạp giấy không.
• Kiểm tra đường tải xem có mẩu_tờ giấy nào bị “dắt” trong đường tải không.
• Kiểm tra đầu ra xem có mẩu_tờ giấy nào bị “dắt” trong lô sấy không.
Trạng thái cơ được kiểm soát thông qua các sensor sau :
• Sensor đường nạp giấy (thường nằm ngay dưới bụng của bánh ép nạp giấy.

Đây thường sử dụng sensor quang điện, nếu có dắt giấy trong đường nạp thì sensor bị tỳ và báo về khối điều khiển.
• Sensor đường tải giấy (thường nằm giữa đường tải, ở gần bụng của hộp mực). Cấu tạo và hoạt động giống như sensor đường nạp.
• Sensor đầu ra (nằm đằng sau trục ép của lô sấy). Cấu tạo và hoạt động giống như sensor đường nạp.

Nếu tất cả các sensor đều tốt và không bị kẹt hoặc đè bởi “dắt” giấy thì trạngthái cơ được nhận định là tốt. Mạch điều khiển sẽ ra lệnh mở motor capstan làm quay toàn bộ hệ thống cơ (ta có thể nghe thấy tiếng chuyển động của các bánh răng).

Nếu có ít nhất 1 trong các sensor bị đè, kẹt thì trạng thái cơ sẽ được nhận định lỗi. Mạch điều khiển sẽ không mở motor capstan và cho sáng đèn báo lỗi.
Lưu ý : Đèn báo lỗi ở mỗi loại máy là khác nhau, có máy nhiều đèn, có máy 1 đèn. Bạn có thể tham khảo nội dung lỗi theo chỉ báo đèn ở website các hãng hoặc trong user guide đi kèm máy.

2.1.3. Kiểm tra trạng thái sấy :
Mục đích là để kiểm soát xem nhiệt độ lô sấy có đủ không.
Việc kiểm tra được thực hiện qua một cảm biến nhiệt. Cảm biến này có thể được gắn tỳ vào trục ép của lô sấy (nếu máy dùng đèn phát nhiệt, máy photocopy gần như 100% dùng đèn phát nhiệt), cũng có khi được dán ngay trên thân của thanh điện trở phát nhiệt (nếu máy dùng điện trở phát nhiệt), nằm trong ruột của áo sấy (bạn nào đã từng tháo máy sẽ nhìn thấy áo sấy màu nâu_đen mỏng, hình dạng giống như tờ giấy đem cuộn thành cái ống).
Nếu bộ phận phát nhiệt, cảm biến nhiệt tốt (nóng thì R cảm biến giảm, nguội thì R cảm biến tăng) thì điện trở cảm biến (nối về mạch điều khiển) nhỏ. Tôi đã đó thử với máy HP5L/6L giá trị khoảng 3KΩ, trên máy Samsung 1120 khoảng 4,5KΩ, dĩ nhiên là tương đối vì phải rút điện mới đo, khi đó thì lô sấy đã nguội đi một chút.
Nếu bộ phận phát nhiệt, cảm biến nhiệt tốt (nóng thì R cảm biến giảm, nguội thì R cảm biến tăng) thì điện trở cảm biến (nối về mạch điều khiển) tăng.
Ba bước kiểm tra 2.1.1, 2.1.2, 2.1.3 là các kiểm tra cơ bản đối với tất cả các máy. Nếu các bước này tốt thì máy gần như đã ready (thử nghiệm trên các máy đời cũ HP4L/4P/5L/6L, Canon LBP 800/810)

2.1.4. Kiểm tra trạng thái mạch quang (scanner)
Trạng thái mạch quang được kiểm soát thông qua hai yếu tố :
• Tín hiệu phản hồi từ IC điều khiển motor lệch tia và diode laser. IC này nằm trong hộp quang (scanner). Khi lệnh kiểm tra được phát ra ta có thể nghe thấy tiếng “rít” khẽ của motor.

• Công tắc (cửa). Như đã nói ở phần trước, khi đóng cửa sẽ tác động vào 1 công tắc. Ngoài ra, trên cửa thường có 1 “mấu” nhựa chọc thẳng vào mặt trước dàn quang (với máy HP4L/5L/6L, Canon LBP800/810) để đẩy lá che của diode laser với mục đích bảo vệ nó tránh bụi, ánh sáng trời tác động khi mở cửa.
Tuy nhiên, việc kiểm tra mạch quang không kiểm soát được xem diode hoạt động như thế nào, cường độ phát xạ (ảnh hưởng đến chất lượng bản in), tình trạng của gương, kính có mốc hay không … Nói cách khác, ko thể kiểm soát được chất lượng của tia laser.

Việc kiểm tra trạng thái mạch quang chỉ thực hiện ở các máy đời mới (Canon LBP2900, Samsung 1120, HP5000…) còn các máy đời cũ (HP4L/5L/6L, Canon LBP800/810…) không được thực hiện.
Ngoài các bước kiểm tra 2.1.1, 2.1.2, 2.1.3, 2.1.4 thì mạch bảo vệ của khối nguồn cũng kiểm soát thông qua mạch bảo vệ quá dòng (OCP – Over Protection) và quá áp (OVP – Over Protection Voltage) nếu có sự cố thì nguồn sẽ cắt.

Sau 4 bước kiểm tra này, mạch điều khiển đưa máy vào tình trạng ready, nó coi như máy đã sẵn sàng hoạt động. Máy coi như đã khởi động xong
Tới đây, có thể các bạn sẽ thắc mắc “Vậy, khối data thì sao”
Đúng vậy, mạch điều khiển chỉ kiểm soát “sự vận hành” chứ không kiểm soát “dữ liệu cần in ra”, chính vì thế nó ko kiểm tra, khối data có thể chết thì máy vẫn ready, bạn cũng có thể thử nghiệm bằng cách rút cáp nối từ khối data sang mạch điều khiển, rút cáp nguồn cấp cho khối data thì máy in vẫn khởi động bình thường.

Còn tiếp…

Mọi thắc mắc về máy in Laser vui lòng gởi vào forum để thảo luận.

Hoàng Trọng Nghĩa

Email : htnghiahd@gmail.com

1 – Màn hình bị chết điểm mầu

* Biểu hiện:
Trên màn hình có một hoặc nhiều điểm mầu không thay đổi được độ sáng trong mọi hoàn cảnh.
* Phương pháp kiểm tra:
– Bạn hãy thiết lập cho màn hình toàn mầu đen để phát hiện các điểm mầu chết ở dạng “không tắt được”
– Thiết lập cho màn hình toàn mầu trắng để phát hiện các điểm mầu “không sáng được”
Cách thực hiện:
– Kích phải chuột lên màn hình Desktop / chọn Properties / chọn Desktop
– Trong mục Background chọn [None]
– Trong mục Color: chọn mầu đen rồi OK
Khi đó cả màn hình sẽ đen, bạn hãy quan sát kỹ trên màn hình, nếu phát hiện thấy một chấm mầu đỏ hay mầu xanh hay mầu trắng v v… thì đó là điểm mầu bị chết “không tắt được”

Một số điểm mầu bị chết “không tắt được” tạo ra các điểm mầu xanh, đỏ trên nền đen

Một số điểm mầu bị chết “không sáng được” tạo ra các điểm mầu xanh, đỏ trên nền trắng
* Nguyên nhân chết điểm:
– Nguyên nhân của hiện tượng trên là do bị chết các Transistor điều khiển các điểm mầu trên màn hình, khiến cho điểm mầu đó không thay đổi được độ sáng khi có tín hiệu điều khiển.
* Khắc phục:
– Bạn không thể khắc phục được các điểm chết trên màn hình, các hãng sản xuất thường phải giảm từ 10 đến 20% giá thành của Monitor cho khách hàng khi phát hiện trên màn hình có từ 2 đến 3 điểm chết.

2 – Có đường kẻ mầu dọc hoặc ngang màn hình

* Biểu hiện:
Trên màn hình có một hoặc nhiều đường kẻ có mầu sắc không đổi dọc hoặc ngang màn hình

Hiện tượng chết đường kẻ dọc màn hình

Hiện tượng chết đường kẻ ngang màn hình
* Kiểm tra:
Hiện tượng trên hiển thị ngay trên màn hình trong mọi hoàn cảnh, vì vậy bạn không cần kiểm tra bạn cũng nhìn thấy.
* Nguyên nhân:
Nguyên nhân của hiện tượng trên là do đứt mạch in từ sau IC Drive điều khiển đường ngang và đường dọc của màn hình đến màn hình.

Nguyên nhân của đường kẻ dọc không đổi mầu sắc là do đứt mạch ở sau IC Drive hoặc đứt trên màn hình

Nguyên nhân của đường kẻ ngang không đổi mầu sắc là do đứt mạch ở sau IC Drive hoặc đứt trên màn hình
* Khắc phục:
– Nếu đứt mạch bên trong tấm LCD Panel thì bạn không thể nối lại được
– Nếu đứt mạch ở ngay sau IC Drive thì việc nối mạch cũng vô cùng phức tạp bởi đường mạch rất mảnh

3 – Màn hình bị mất một phần hình ảnh

* Biểu hiện:* Màn hình bị mất một phần hình ảnh dọc màn hình

Màn hình bị mất một phần hình ảnh dọc màn hình

Màn hình bị mất một phần hình ảnh ngang màn hình
* Nguyên nhân:
Hiện tượng trên thường do hỏng các IC Drive điều khiển đường dọc và đường ngang màn hình

Hỏng IC điều khiển đường dọc sẽ dẫn đến mất một phần hình ảnh dọc màn hình

Hỏng IC điều khiển đường ngang sẽ dẫn đến mất một phần hình ảnh ngang màn hình
* Khắc phục:
* Với trường hợp này, sự khắc phục duy nhất là bạn vệ sinh chân Connect từ mạch LVDS giao tiếp với các IC Drive điều khiển đường ngang và đường dọc màn hình.
* Thay đèn hình hoặc thay tấm LCD
– Khi thay đèn hình, bạn cần phải thay cả mạch LVDS bởi mạch này thường đi liền theo đèn hình.
– Bạn cần thay một đèn hình đúng với Model của máy, bạn khó có thể thay thế đèn hình như kiểu màn hình CRT bởi vì nó còn liên quan đến kích thước, vị trí các chân tín hiệu từ mạch Scaling tới, chúng có khoảng 12 đến 24 chân tín hiệu mầu Digital cho ba mầu, bốn chân tín hiệu điều khiển, chân cấp nguồn VDD và một số chân Mass

4 – Màn hình bị vỡ tấm LCD

* Biểu hiện:
Một phần của màn hình bị sáng trắng hay có mầu sắc không thay đổi được, phần khác vẫn có hình.

Màn hình bị vỡ một góc
* Nguyên nhân:
– Nguyên nhân thường do va chạm, do vận chuyển hoặc bị đánh đổ từ trên bàn xuống đất.
– Một nguyên nhân mà do các bạn thợ gây ra là do tháo vỏ máy, dùng tô vít cậy và có thể vỡ đèn.
* Khắc phục:
– Với đèn bị vỡ bạn chỉ có thể thay đèn hình hoặc thay tấm LCD

Đèn hình gồm tấm LCD và phần tạo ánh sáng nền

5 – Bị một nốt đen hoặc nốt mầu ở khu vực hiển thị hình ảnh

* Biểu hiện:
– Trên màn hình có một nốt đen không hiển thị hỉnh ảnh

Màn hình có một nốt đen
* Nguyên nhân:
– Do có một vật ném váo đèn hình hoặc khi sửa chữa do sơ xuất mà bạn để quên một con ốc vít dưới bàn rồi úp đèn hình đè lên chúng làm vỡ các điểm mầu trên màn hình.
* Khắc phục:
– Trường hợp này bạn phải thay đèn hinh hoặc thay tấm LCD

6 – Màn ảnh sáng trắng, không có hình

* Biểu hiện:
Màn ảnh sáng trắng không có hình.

* Nguyên nhân:
– Hiện tượng này thường do hỏng mạch LVDS mạch này được gắn liền với đèn hình
* Khắc phục:
– Với bệnh này bạn có thể sửa được sau khi bạn tìm hiểu mạch LVDS đi liền với đèn hình

7 – Các trường hợp sau thường không phải lỗi do đèn hình.

1. Bị mất ảnh, trên màn hình chỉ còn các đường sọc đen trắng ngang màn hình.
– Hiện tượng này thường không phải lỗi của đèn hình mà do lỗi của khối xử lý tín hiệu ảnh
– Khi bị mất tín hiệu H.Blank từ mạch Scaling đưa sang mạch LVDS thì sẽ sinh ra hiệ tượng dưới đây

2. Màn hình bị sai mầu, hình ảnh bị lang ben.
– Khi hỉnh ảnh bị loang mầu trông giống bệnh lang ben hay giống vết dầu loang thì đó thường không phải lỗi đèn hình
– Nguyên nhân của hiện tượng dưới đây thường do mất một hoặc nhiều đường tín hiệu mầu Digital từ mạch Scaling đưa sang mach LVDS

3. Màn hình có các đường kẻ sọc mầu dọc màn hình
– Hiện tượng này thường không phải lỗi của đèn hình mà do lỗi của khối xử lý tín hiệu ảnh
– Khi bị mất tín hiệu Pixel Clock từ mạch Scaling đưa sang mạch LVDS thì sẽ sinh ra hiệ tượng dưới đây

4. Màn hình đen thui, mặc dù vẫn có đèn báo nguồn.
Có hai trường hợp dẫn đến hiện tượng này

a) Trường hợp mất ánh sáng nền (mất đèn cao áp)
– Khi đó màn hình tối đen nhưng khi bạn lấy bóng đèn soi vào màn hình bạn vẫn thấy có hình ảnh mờ mờ phía trong đèn hình.

b) Trường hợp bị mất tín hiệu Video
– Trường hợp bị hỏng mạch xử lý tín hiệu Video cũng gây ra hiện tượng đen thui màn hình, với trường hợp này bạn nhìn từ một góc nghiêng thì thấy màn hình vẫn sáng.

8 – Câu hỏi thường gặp

1. Câu hỏi 1 – Khi mua một màn hình LCD cũ thì cần kiểm tra như thế nào ? Trả lời:
Khi mua màn hình LCD cũ bạn cần lưu ý các điểm sau:
– Nhìn độ sáng màn hình có đạt với yêu cầu của bạn không ?, thông thường các màn hình có độ sáng tốt thì cho hình ảnh rực rỡ hơn.
– Chỉnh độ Contras lên cao nhất xem có bị loá không, một số màn hình kém khi chỉnh Contras lên cao thì chi tiết sáng bị loá đi và không còn nhìn thấy chi tiết ảnh.
– Đưa màn hình về đen 100% và trắng 100% để quan sát xem có điểm mầu chết không ?, cứ mỗi điểm chết bạn hãy trừ đi 10% giá thành nếu bạn chấp nhận mua nó.
– Bạn nhìn từ một góc nghiêng xem có thấy rõ hình không ?, một số màn hình kém có góc nhìn hẹp khi bạn nhìn nghiêng nó bị sai mầu hoặc không rõ hình.
– Bạn nhìn các chi tiết nhỏ nhất trên màn hình có tinh xảo không ?, ví dụ như nét chữ, đường kẻ chúng càng mảnh thì thì thể hiện độ nét của màn hình càng cao.
– Chỉnh tăng độ phân giải trên máy tính lên xem màn hình có thể hiển thị được độ phân giải tối đa là bao nhiêu, nếu màn hình có độ phân giải thấp thì khi tăng độ phân giải ở máy tính lên cao hơn độ phân giải cực đại của màn hình nó sẽ mất hình, vì vậy độ phân giải của màn hình càng cao càng tốt.
– Mở một hình phong cảnh xem mầu sắc có rực rỡ không, nếu mầu càng rực rỡ thì thể hiện độ sâu mầu càng cao.
2. Câu hỏi 2 – Màn hình có những lỗi gì và có khắc phục được không ? Trả lời:
Màn hình thường có những lỗi sau đây mà bạn không thể khắc phục được hoặc rất khó khắc phục:
– Màn hình bị chết điểm mầu (trên màn hình có những điểm có mầu sắc không thay đổi trong mọi tình huống)
– Màn hình có đường kẻ sọc mầu dọc hoặc ngang màn hình
– Màn hình có nốt đen hoặc thâm trên màn hình
– Màn hình vị vỡ, bị dập.
3. Câu hỏi 3 – Màn hình bị mất mầu xanh lá, chỉ còn màn hình mầu tím ngắt, có thể do hỏng đèn không ? Trả lời:
– Với màn hình CRT thì hiện tượng trên có thể do hỏng Ka tốt G, còn màn hình LCD thì hiện tượng trên không phải do đèn.
– Trên đèn CRT thì các điểm mầu có phát sáng hay không là phụ thuộc vào các dòng tia điện tử phát ra từ các Katốt tương ứng, còn trên màn hình LCD thì các điểm mầu đều do một tín hiệu chung là xung Pixel Clock điều khiển, nếu mất xung này thì sẽ mất hình ảnh chứ không phải chỉ sai mầu
– Hiện tượng mất một mầu trên màn hình LCD thường chỉ do mất một tín hiệu mầu từ Card Video đưa tới, có thể do đứt cáp tín hiệu.
4. Câu hỏi 4 – Bạn hãy so sánh hai loại đèn hình LCD và đèn hình CRT Trả lời:
Giống nhau:
– Cả hai loại màn hình đều sử dụng nguyên lý quét để tạo ra hình ảnh động.
– Cả hai loại màn hình đều có thể hiển thị được vô số mầu sắc nhưng thực chất chỉ có ba mầu cơ bản là : đỏ – xanh lá và xanh lơ.

Khác nhau:
– Đèn hình CRT dùng tia điện tử để kích thích cho chất phospho phát sáng tạo ra ánh sáng trực tiếp từ lớp phospho đó, có ba loại phospho và chúng có khả năng phát ra ba mầu đỏ, xanh lá và xanh lơ khi có tia điện tử kích thích.
– Đèn hình LCD thì lại dùng điện áp điều khiển các tinh thể lỏng cho phép ánh sáng xuyên qua nhiều hay ít, sau mỗi phần từ tinh thể lỏng là các tấm lọc mầu để lọc ra mầu đỏ, xanh lá hay xanh lơ.

– Đèn hình CRT sử dụng các cuộn lái tia để lái tia điện tử quét theo chiều ngang và theo chiều dọc màn hình, cuộn lái dòng thì điều khiển tia điện tử quét từ trái qua phải màn hình còn cuộn lái mành thì điều khiển cho tia điện tử quét từ trên xuống dưới màn hình.
– Đèn LCD lại sử dụng các xung điện để dịch chuyển sự điều khiển sang các điểm ảnh kế tiếp, mỗi xung Pixel Clock xuất hiện là nó dịch chuyển sang để điều khiển điểm ảnh kế tiếp ở bên phải, mỗi khi xung H.Blank xuất hiện là nó chuyển xuống dòng kế tiếp và mỗi xung V.Blank xuất hiện là nó quay về điểm xuất phát để thực hiện quét một màn hình mới.

– Do mầu sắc được phát ra trực tiếp từ lớp phospho nên màn hình CRT thường sáng hơn và mầu sắc rực rỡ hơn màn hình LCD
– Màn hình CRT sử dụng từ trường để lái dòng tia điện tử và không tránh khỏi hiện tượng cong đường biên hay gọi là méo gối khiến cho khi bạn thiết kế độ hoạ thì các đường thẳng bị cong đi, còn trên màn hình LCD thì các đường thẳng luôn luôn thẳng tuyệt đối.

– Trên màn hình CRT có hiện tượng nhoè hình khi thời tiết bị ẩm làm sai điện áp Focus còn trên màn hình LCD thì không bao giờ có hiện tượng đó.
– Đèn hình CRT khi độ phát xạ của các ka tốt bị yếu đi khiến hình ảnh mờ và sai mầu, khi đó bạn phải thay đèn hình, còn trên màn hình LCD, khi ảnh tối đi bạn có thể thay thế bóng cao áp với giá thành rất nhỏ so với phải thay đèn hình.

– Đèn hình CRT có điện áp HV lên tới 15.000V đến 20.000V còn đèn hình LCD thì điện áp HV chỉ có từ 1000 đến 1500V vì vậy nó an toàn hơn cho các bạn thợ.

– Đèn hình CRT có thể phát ra các tia tử ngoại có hại cho sức khoẻ của người sử dụng còn màn hình LCD thì không.

– Đèn hình CRT còn có hiện tượng nhiễm từ gây ra loang mầu còn màn hình LCD thì không bị ảnh hưởng bởi từ trường.
5. Câu hỏi 5 – Hãy cho biết điểm giống và khác nhau giữa đèn hình Monitor LCD và Tivi LCD Trả lời:
Giống nhau:
– Cả hai loại màn hình đều có nguyên lý hoạt động như nhau
– Cả hai loại màn hình đếu có cấu tạo như nhau
– Các tiêu chuẩn đánh giá về chất lượng của hai loại đèn có một số điểm tương đồng

Khác nhau:
– Đèn hình Monitor LCD thường có độ phân giải cao hơn nhiều so với đèn hình Tivi LCD
– Các tần số Pixel Clock, H.Lank và V.Blank của Monitor LCD cao hơn của Tivi LCD
– Công nghệ sản xuất đèn hình Monitor LCD tinh vi hơn đèn hình Tivi LCD
– Độ sáng max của màn hình Monitor LCD thường yếu hơn của màn hình Tivi LCD

Nguồn: hocnghe.com.vn

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 33 other followers